Phân tích nhân vật bé Hồng dựa vào đoạn trích Trong lòng mẹ của Nguyên Hồng – Văn mẫu lớp 8

Danh mục: Soạn văn , Soạn văn tập 1

Đánh giá bài viết Phân tích nhân vật bé Hồng dựa vào đoạn trích Trong lòng mẹ của Nguyên Hồng – Bài làm 1 của một bạn học sinh giỏi Văn tỉnh Hà Tĩnh Trong suốt cuộc đời viết vãn của mình, nhà vãn Nguyên Hổng đã gặt hái được rất nhiều thành công. Nhưng chính tác phẩm “Những ngày thơ ấu” viết khi ông tròn 18 tuổi, đã đưa ổng bước vào làng văn một cách chững chạc và quả quyết. Tác phẩm ...

Phân tích nhân vật bé Hồng dựa vào đoạn trích Trong lòng mẹ của Nguyên Hồng – Bài làm 1 của một bạn học sinh giỏi Văn tỉnh Hà Tĩnh

Trong suốt cuộc đời viết vãn của mình, nhà vãn Nguyên Hổng đã gặt hái được rất nhiều thành công. Nhưng chính tác phẩm “Những ngày thơ ấu” viết khi ông tròn 18 tuổi, đã đưa ổng bước vào làng văn một cách chững chạc và quả quyết. Tác phẩm chính là một tập hổi kí về cuộc đời đầy đau khổ, sóng gió của nhà văn.

Bằng cách dẫn chuyện tài tình, tác giả đưa ta đến với gia đình bé Hồng, một gia đinh rất giầu có. Bằng chứng là vào ngày sinh cùa chú bé, rất nhiều vị có máu mật đến chúc mừng. Đổ lễ đổ mừng chật ních cả nhà. Tướng rằng bé Hồng sẽ mãi sống trong cảnh giàu sang, sung sướng, nhung ngờ đâu cuộc đời em chìm ngập trong đau thương, khổ ải. Có lẽ bát hạnh lớn nhất đối với Hổng là việc cha mẹ em lấy nhau chi vì ép buộc, không có hạnh phúc. “Sự trái ngược cay đắng đó đã hiểu rõ rệt và thấm thìa ngay lừ năm lên bảy, lân tám”. Chính em cũng phải nói thố là gì ! Còn cay đắng, xót xa nào hơn khi đứa con biết “người mẹ thỉnh thoảng lại mỉm những nụ cười êm ấm, dịu dàng”, nhưng trong lòng thì “luôn giá buốt, đau đớn phiền muộn”.

Trong cuộc sống từ bé của Hổng, tình cảm gia đình đã có cái gì đó gượng ép, cha mẹ sống với nhau mà nhau như không có tình cảm. tất cả chỉ vì đứa con chung, chính là Hổng. Và cũng ngay từ bé, Hồng đã nghe những lời đồn không mấy tốt đẹp vể mẹ. Việc mẹ đẻ em Quế với ông cai H. chứ không phái với thầy, v.v… Tất cả những chuyện như thế, không phải ai khác mà chính những người trong gia đình đã gây nên ngọn lửa tò mò trong em. Để đến nỗi trong suốt một thời gian dài Hổng phải sống trong sự dằn vặt, phân vân. không biết ai đúng, ai sai. Rồi khi gia đình sa sút vì cái bàn đèn của bố Hồng, gia đình đã quyết định bán nhà. Tuy rằng đó là mội sự mất mát lớn, nhưng Hồng là một chú bé rất giàu tình cảm. Những lời nói ngây thơ cùa em: “Để con đi học rồi con xây lại nhà cho bà” đã phần nào giảm bới không khí nặng nề, u ám đang bao trùm lên gia đinh. Góp phấn vào đấy là sự khánh kiệt đến cực độ cùa gia đình Hổng. Mẹ thì buôn bán thua lỗ, thầy thì nghiện thuốc phiện, ngày ngày phải sống ãn bám vào vợ. Vậy dấy ! Cái cuộc sống tưởng như sung áướhg, nhàn hạ của bé Hồng, giờ trở nên nghèo túng, thiếu thốn. Không những thiếu thốn về mặt sinh hoạt, vui chơi,… mà em còn thiếu một gia đình ấm cúng, thực sự trở thành chỗ dựa vững chắc cho tuổi ấu thơ cùa em. Người cha, chỗ dựa của cả gia đình, nay lại nghiện ngập, hút xách, sống ăn bám. Khốn nạn đến nỗi phải cướp tiền của Hồng để mua thuốc hút. Thử hói rằng ai mà không xấu hổ, đau đớn khi có một người chồng, một người cha như vậy!

Cuối cùng, thì cha Hổng, cả đời sống tối lãm, u uất, nay đã chết trong nghèo nàn, nghiện ngập. Người mẹ khao khát yêu thương đành phải chôn vùi tuổi thanh xuân trong cuộc hôn nhân không lối thoát nay đã chạy thoái khỏi sự cổ hủ của lễ giáo phong kiến đè nặng lẽn cuộc đời mình, bà đi vào Thanh Hóa, bỏ lại bé Hồng bơ vơ, côi cút giữa sự ghẻ lạnh của những người họ hàng giàu có. Hồng phải chịu những lời lẽ cay nghiệt, xấu xa từ phía họ nội. Hoàn cành bắt buộc em phải trở thành đứa trỏ lêu lổng, đói rách, luôn khao khát một cuộc sống, một tình yêu thương đích thực. Vậy mà cái mong muốn đơn thuần, giản đơn ấy mãi mãi không thực hiện được. Đối với Hồng, cái cảnh của nhà thờ đêm Noel không có chỗ cho em, cho những con chiên bé nhỏ tìm sự che chở, ban phước cùa Chúa, mà chỉ dành cho những ông Tây, bà đầm, những chức dịch, những kẻ quyền quý, khệnh khạng và bệ vệ. Khó khăn lắm em mới len được vào, để có thể nhìn thay bàn thờ. Rõ ràng cái xã hội thối tha bẩn thỉu ấy không phải là chỗ đứng của em. Nhưng biết làm sao dược! Chúa đã ấn định cho cuộc đời Hồng một vực thắm tăm tối. Cái vực thẳm ấy sẵn sàng nhấn chìm em, nếu em có một phút lỡ làng, quên đi bản chất hổn nhiên ngây thơ, chân thật của minh.

Mặc dù sống hoàn cảnh như vậy, nhưng tâm hồn Hồng vẫn là vì sao lấp lánh giữa bầu trời thăm thẳm. Trong tâm tư của bé Hồng vẫn tồn tại hình ảnh một người cha dịu dàng, ngọt ngào; một người mẹ “chỉ vì sợ hãi những thành kiến cổ hủ mà xa lìa các con. Chính cuộc nói chuyện giữa Hồng và bà cô đã nói lên điều ấy. Bà cô thì một mực nói xấu, xúc xiểng mẹ Hổng nhưng tình thương và hình ảnh của mẹ luôn ngời sáng trong tâm trí em. Và ngay cả chúng ta cũng phải cõng nhận rằng Hồng rất thông minh, tinh ý. Bời đối với một đứa trẻ, một năm không được gặp mẹ, không nhận được một lá thư, một lời tham hỏi âu yếm, không xin mẹ được một đồng quà, khi bắt gặp câu hỏi “có muốn vào chơi với mẹ hay không ? Với tâm lí ngây thơ, trong sáng sẽ trả lời ngay là “Có” khổng chút đắn đo. Nhưng Hồng thì lại khác. Em cũng toan trả lời là “có”, nhưng chợt nhận ra những điều không tốt đẹp trong cãu nói ấy nên mới phản bác lại ý muốn dồn nén trong lòng từ bấy lâu nay của mình để có được cái “chợt” ấy quả là một quá trình lâu dài, được hình thành từ những việc xảy ra trong cuộc sống mà em quan sát và tiếp thu được.

Những động cơ xấu, như bà cô, đã làm mất đi phần nào tính ngây thơ trong Hống, đế đến nổi mỗi lời nói, mỗi hành dông của em đều được cân nhắc, suy nghĩ kỹ càng. Trong em, sự tính toán cùa người lớn đã trở thành không thể thiếu. Bời ớ cái xã hội của em, mọi người hầu như đều giả dối, ác độc. Đáng thương biết bao ! Và tiếng cười của em khi trả lời bà cô: “Cháu không muốn vào” như gây cho người đọc cảm giác: như Hồng không chú ý, không buồn bã khi phải xa mẹ. Mặc dù trà lời như vậy nhưng chắc rằng lúc bấy giờ, trong lòng Hồng, hình ảnh và những tình cảm thương yêu mặn nồng đối với mẹ đang trào dâng nghẹn ngào. Đúng vây ! Tất cả diễn biến tâm trạng cùa Hổng đều trái ngược với lời nói, hành động của em. Điều đó chẳng lẽ không phải là một nỗi đau thầm kín nhưng sâu sắc, giằng xé tâm hổn em hay sao ? Đặc biệt tâm trí cùa bé Hồng cũng được nhà văn miêu tả theo mức độ tâng dần. Lúc đầu Hổng còn cười, sau đó “lòng em thắt lại, khóc mất đã cay cay”. Chúng ta càng hiểu rõ và càng căm ghét bà cô độc ác bao nhiêu, thì tình thương yêu, cảm thông bé Hồng lại càng mãnh liệt, đậm đà bấy nhiêu. Vết thương trong lòng em đã không được hàn gắn, nay lại bị người khác dào bới thêm ra nên Hồng như thấy lòng mình thát lại, quặn đau. Nếu trước kia em cố làm ra vẻ lính bơ thì nay không thế kìm nén được nữa. Em trờ về đúng tâm trạng cúa mình: đau đớn, tủi phận khi thấy cồ nói xấu, xúc xiếrng người mẹ em hàng tôn quý. Sự đau đớn đó lại càng lên tới lột đinh khi Hồng nghe có nói mẹ mình sinh em bé. Nhưng Hồng đâu trách mẹ, chỉ vì mẹ chưa đoạn tang cha mà đã chửa đẻ với người khác. Chính bới em cũng hiểu cuộc hổn nhân cùa cha mẹ hoàn toàn bị ép buộc, không có hạnh phúc. Cho nên việc mẹ gây dựng hạnh phúc với người khác,chẳng qua vì mẹ cố tìm lai thời thanh xuân mà mình đã đánh mất, đã chôn vùi dưới nấm mồ thời gian mà thôi. Duy nhất Hổng chỉ trách mẹ đã không dám đối mặt với cái lể thói, hủ tục phong kiến bấy lâu nay chèn ép, vùi dập cuộc sống của mẹ, đã cướp đi hạnh phúc, tổ ấm mà đáng lẽ ra một người như mẹ được hường. Nhà văn miêu tả rất thành công điệu cười của Hổng: “Cười dài trong tiếng khóc ”. Cái tiếng cười ấy chứa đựng biết bao hàm ý. Trước hết dó là một tiếng cười chua xót, túi phận khi không có một mái ấm gia đình như ai. Sau nữa là tiếng cười căm giận, mỉa mại. Trong cuộc nói chuyện ấy, cuối cùng là hình ảnh bé Hồng “Cổ họng nghẹn ừ, khóc không còn ra tiếng” . Có lẽ lúc ấy do quá đau đớn nên Hổng mới trở nên yếu đuối, quỵ gục về thể xác. Nhưng trong tâm hồn em, tình thương (lối với mẹ vẫn là võ biên. Nhà vãn viết: “Giá những hủ rục đã đầy đọa mẹ tôi ấy là một vật có thể như hòn đá. cực thủy tính hay đầu mầu gỗ, tôi quyết vồ ngay lấy. nhét vào miệng ngấu nghiến cho kỳ vụn như cám mới thôi”. Phải! Em vẫn còn đù sức để nghiền nát, để xóa bỏ những gì đã đầy đọa mẹ em khổ cực. Chi tiết này chứng tỏ tình cảm cúa Hồng đối với mẹ thật là bao la, vô bờ bến.

Nếu trong cuộc nói chuyện với bà cô, Hổng đã phải đau đớn, giằng xé bao nhiêu thì nay em lại được đền bù bấy nhiêu. Đấy là sự trớ về của mẹ Hồng. Bằng những trực giác hết sức tinh tế nhạy bén của mình, thêm vào đó là những tình cảm nổng nàn Hồng dành cho mẹ, em đã phát hiện rất chính xác người ngồi trên xe kéo là mẹ mình. Nhưng do quá sung sướng, bất ngờ nên Hồng nghĩ ”mình đã lầm”. Vậy nhưng bé Hồng vẫn cất tiếng gọi một cách bối rối: “Mợ ơi! Mợ ơì ! Mợ ơi!

Đến đãy, ngay cả người đọc cũng hồi hộp và mừng thầm thay cho em. Nếu người đó là mẹ Hồng thì em đã dược đền bù thích đấng sau bao naày sống khốn khổ, bơ vơ. Nhưng nếu không phải thì còn thất vọng nào cho bằng. Chính em cũng nói lên điều đó. Thực sự em nhầm lẫn thì khác nào người bộ hành đi giữa sa mạc mênh mòng bắt gập ảo ảnh của bóng râm và dòng suối. May mắn thay dó chinh là mẹ Hồng. Hình ảnh em hồng hộc chạy theo xe tay, đến nơi thì khóc lên nức nở chứng tỏ em rất nhạy cảm. Em túi thân lắm nên tiếng khóc nghẹn ngào mới bặt ra khi gập mẹ. Đồng thời đó còn là tiếng khóc sung sướng, vỡ òa ra. Và khi nhà vãn nói lên tâm trạng bé Hồng: “Nhận ra mẹ không còm cõi xơ xác quá như lời cô tôi nói”, chúng ta mới vỡ lẽ rằng dù sao Hồng vẫn còn là một đứa trẻ. Em bảo vệ, bênh vực mẹ là thế, nhưng em vẫn chịu ảnh hưởng của lời nói dộc địa từ bà cô. Em vẫn nhận rằng mẹ không đến nỗi nhu cô nói chứng tỏ phán nào em cũna tin những thông tin kia. Nhưng do lúc ấy, niềm sung sướng choáng ngợp tâm trí em nên em có thể quên ngay những lời đồn đại xấu xa về mẹ. Hổng lúc ấy chỉ là một chú bé con, trở về trong lòng người mẹ yêu dấu. Em thực sự phải được hưởng niềm hạnh phúc lớn lao ấy bời con người, tâm hồn em đích thực là một vì sao lạc lõng, nhỏ bé nhưng sáng chói giữa bầu trời bao la.

Qua toàn bộ tác phẩm, nhất là ò chương IV, chúng ta có thể học tập được rất nhiều đức tính ở bé Hồng . Mặc dù lớn lẽn trong một hoàn cảnh rất khắc nghiệt nhưng Hổng vẫn đấu tranh cho cuộc sống của mình, đấu tranh cho những gì mà mình thấy là lẽ phải, là hợp đạo lí. Chắc chắn sau này hình ảnh cậu bé đáng yêu và đáng thương này mãi ngời sáng trong tâm hổn chúng ta.

Phân tích nhân vật bé Hồng dựa vào đoạn trích Trong lòng mẹ của Nguyên Hồng – Bài làm 2

Năm 1937, trong bài thơ “Mổ côi”, Tố Hữu có viết:

“Con chim non rũ cánh

Đi tìm tổ bơ vơ

Quanh nẻo rừng hiu quạnh

Lướt mướt dưới dòng mưa…“

Một năm sau, trên tuần báo Ngày nay, hồi ký “Những ngày thơ ấu” cùa Nguyên Hổng ra mắt bạn đọc. Nhân vật bé Hổng trong cuốn hổi kí cũna là một “con chim lion rã cánh…”. Bố nghiện ngập, gia đình sa sút trờ nên bần cùng. Bô’ chết chưa đoạn tang, người mẹ trẻ lại chửa đè với người ta, “nợ nấn quá”, phải bỏ nhà, bỏ quê vào Thanh Hóa kiếm ăn lẩn hổi. Bé Hồng mổ côi, bơ vơ sống trong sự ghẻ lạnh của họ hàng bên nội. Đến trường thì bị thầy giáo phạt quỳ một cách vô lí oan uổng; đêm Nô-en thì bị người ta hắt hủi đuổi ra khỏi nhà thờ, em lúi thủi đi dưới làn mưa gió lạnh lẽo…

Đọc Trong lòng mẹ , ta bắt gặp một bé Hổng rất đáng thương, đáng yêu; trong đau khổ, trái tim thương yêu của em vẫn dành cho người mẹ một cách đằm tham trọn vẹn.

Mồ côi bố, cái mũ trắng của bé Hồng còn “quấn băng đen”; mẹ tha phương cầu thực mãi chưa về. Sống trong cảnh ăn cơm chực gia đình bẽn nội, chú còn bị người cô nanh ác, hiểm độc nói xấu mẹ mình. Mẫn cảm và thông minh, bé Hồng đã phát hiện ra “những ý nghĩ cay độc trong giọng nói và trên nét mặt khi cười rất kịch” của bà cổ tàn nhẫn. Mặc dù đã non một năm, mẹ không gửi cho một lá thư, không nhắn lời hỏi thãm, không gửi cho con một đồng quà nào, nhưng trái tim của em đối với người mẹ đau khổ vẫn trọn vẹn. Bà cô cố ý gieo vào lòng ngây thơ của em “những hoài nghi” để em “khinh miệt và ruồng rẫy mẹ”… Bé Hồng là một đứa con hiếu thảo, cảm thông với cảnh ngộ “góa chồng, nợ nần cùng túng quá phải bỏ con cái đi tha hương cầu thực” của mẹ mình. Em quyết không để “những rắp tâm tanh bẩn ” của bà cô xâm phạm đến “tình thương yêu và lòng kính mến mẹ”.

Bao nhiêu nước mắt cùa bé Hổng đã chảy xuống trước những lời cay độc cùa bà cố: “Mợ mày phút lài lắm…”, “vào mà thăm em bé chứ”, mợ mày “ngồi cho con bù ở bân rổ bóng đàn…, ăn vận lách rưới, mặt mày xanh bủng. người gầy rạc đi…”, gặp người quen thì “quay đi, lấy nón che”… Mỗi lời nói và giọng cười của bà cô đã làm cho bé Hồng võ cùng tủi nhục, đau đớn. Lúc thì em “cúi đầu xuống đất”, lòng “thắt lại”; khóe mất “cay cay”. Lúc thì nước mắt “ròng ròng rớt xuống hai bẽn mép rồi chan hòa đầm đìạ ở cằm và ở cổ”. Có lúc, cổ họng em “nghẹn ứ khóc không ra tiếng”. Bé Hổng rất thương mẹ, em đã cảm thông với mẹ chưa đoạn tang chồng mà đã chửa đẻ với người khác. Em không trách mẹ mà “căm lức” sao mẹ vì “sợ hãi những thành kiến càn ác” mà xa lìa đứa con thơ. Lòng thương mẹ của bé Hổng là vô cùng mãnh liệt. Càng thương mẹ bao nhiêu, em càng căm ghét, càng ghẽ tởm những cổ tục bấy nhiêu: “Giá những cổ tục đã đẩy đọa mẹ tôi là một vật như hòn đá hay cục thủy tinh, đầu mẩu gổ, tôi quyết vồ ngạy lấy mà cắn, mà nhai, mà nghiến cho kì nát vụn mới thôi”.

Phần đấu chương Trong lòng mẹ, qua nhãn vật bà cô độc địa, xấu xa, hình ảnh bé Hồng càng trớ nên đáng yêu đáng trọng. Những dòng nước mắt của em chứa chan bao tình thương mẹ, một người mẹ đau khổ mà đôn hậu.

Phần cuổi chương Trong lòng mẹ nói lên niềm sung sướng của bé Hồng được gặp lại mẹ hiền sau một năm dài xa cách. Đốn ngày giỗ đầu của bố, em chẳng viết thư cho mẹ thì mẹ cũng về. Thương mẹ nhiều, nhớ mẹ lắm, tin yêu mẹ nên bé Hồng mới có linh cảm khi “chợt thoáng thấy một bóng người ngồi trên xe kéo giống mẹ” mình, liền chạy theo gọi rối rít: “Mợ ơi ! Mợ ơi ! Mợ ơi !”… Nỗi khát khao gập mẹ của bé Hồng khác nào người bộ hành giữa sa mạc khao khát !‘mộ/ dòng nước trong suốt chảy dưới bóng râm“… Như một cành dào dạt niềm vui. Xe chạy chầm chậm. Mẹ cầm nón vẫy con. Con chạy kịp. thừ hổng hộc, trán đẫm mổ hôi. Vui sướng cảm động, con trèo lên xe mà “ríu cả chân lại”. Mẹ kéo lay con, xoa đầu con; con “nức nở”, mẹ cũng sùi”. Đã bao lâu rồi bé Hổng lại dược nghe lời yêu thương của mẹ hiền: “Con nhớ dì ! Mợ dã về với các con rồi mà’’. Bao cử chì thương trìu mến hòa quyện tình mẹ con. Mẹ “xóc nách” con lên xe, rồi lấy vạt áo nâu “thấm nước măt’ cho con. Con ngắm nhìn gương mặt mẹ. Mẹ “không còm cõi xơ xác ‘ như người cô đã nói. Gương mặt mẹ “vần tươi sáng”, đôi mắt mẹ “trong’’, ‘‘nước da min làm nổi bật. màu hống của hai gô má”. Một mùi “thơm tho lạ thường” phả ra từ quần áo, từ hơi thò ở khuôn miệng xinh xán nhai trầu cúa, mẹ.

Từ miêu tả cụ thế những chi tiết, tình tiết cúa hai mẹ con gặp lại nhau sau một năm dài xa cách, bé Hổng với tâm hồn trong sáng ngây thơ và giàu lòng hiếu tháo, em đã thổ lộ niềm vui sướng hạnh phúc cùa đứa con dược sống Trong lòng mẹ: “Phái bé lại và lăn vào lòng một người mẹ, áp mật vào bấu sữa của người mẹ… mới thấy người mẹ có một êm dịu vô cùng”. Sự êm dịu ấy đã dược khơi nguồn từ tình mầu tứ bao la. Câu nói ấy của bé Hổng đã đem đến cho ta nhiều chân cảm. Bế Hồng mồ côi. hiếu thảo, rất thuơng yêu mẹ mới dạt dào chân cảm ấy.

Trong lòng mẹ là những trang hổi kí càm động. Nhân vật bé Hồng trong đau khổ xa cách mẹ, trong cay đắng khi bà cô nói xấu mẹ, trong niềm vui sướng hạnh phúc tột độ được gập lại mẹ hiền, được mẹ vỗ về an ủi, đểu sáng bừng lên một trái tim yêu thương thiết tha, chân thành, những “rung động cực điểm cùa một linh hồn trẻ dại” (Thạch Lam). Giọt nước mắt cùa bé Hổng là giọt nước mắt cùa một đứa con hiếu thảo. Trong bi kịch gia đình, bi kịch tuổi thơ, em càng thương mẹ hờn bao giờ hết.

Đoạn văn ghi cảnh bé Hồng gặp lại mẹ là hay nhất, cám động nhất. Bé Hổng là hình ảnh đáng thương và đáng yêu của bài ca Trong lòng mẹ.

Phân tích nhân vật bé Hồng dựa vào đoạn trích Trong lòng mẹ của Nguyên Hồng – Bài làm 3

Bên cạnh nhân vật người mẹ mang nhiều nét đẹp, nhân vật chú bé Hồng hiện lên với biết bao suy nghĩ và cảm xúc, cũng thật là đẹp, đáng chia sẻ, đáng trân trọng. Qua nhân vật này, chúng ta không chỉ cảm nhận những cung bậc tâm trạng của một chú bé rất mực tin yêu mẹ mà còn hiểu cụ thể, sâu sắc nhũng nét đặc trưng của thể văn hồi kí, một thể văn đậm chất trữ tình. Chất trữ tình thống thiết của ngòi bút Nguyên Hồng thể hiện bằng lời kể của nhân vật “tôi” (tức bé Hồng) với những diễn biến tâm trạng theo trình tự thời gian trong hai mối quan hệ: quan hệ với bà cô và quan hệ với người mẹ, rất cụ thể.

Khi nói chuyện với bà cô, bé Hồng chịu bao nhiêu đau đớn, uất ức, nhưng vẫn lòng tin yêu mẹ. Nghe lời nói thứ nhất của bà cô, lập tức trong kí ức chú bé sống dậy hình ảnh người mẹ ở nơi xa, cơ cực, vất vả. Từ cử chỉ “cúi đầu không đáp” đến lúc cười và đáp lại: “năm nay thế nào mợ cháu cũng về” là một phản ứng thông minh xuất phát từ sự nhạy cảm và lòng tin yêu mẹ của chú bé. Chú đã nhanh chóng nhận ra ý nghĩa cay độc của lời bà cô và cố gắng giữ vững tình thương yêu và lòng kính mến mẹ. Nhưng vì tuổi thơ non nớt, nên đến lời nói thứ hai, thứ ba của bà cô, lòng chú bé “càng thắt lại, khóe mắt đã cay cay”, rồi “nước mắt ròng ròng, rớt xuống hai bên mép, rồi chan hòa đầm đìa ở cằm, ở cổ….”. Nỗi đau, sự day dứt đã lên đến đỉnh cao. Trong tâm hồn non nớt ấy, diễn ra một mâu thuẫn: “Tôi thương mẹ tôi và căm tức sao mẹ tôi lại vì sợ hãi những thành kiến tàn ác mà xa lìa anh em tôi để sinh nở một cách giấu giếm trốn tránh như một kẻ giết người lung túng với con dao vấy máu…”. Lời văn, nhất là hình ảnh so sánh thật dữ dội. Tình thương, niềm tin yêu và một chút ngờ vực đối với người mẹ như đang nổi bão, giằng xé trong lòng chú bé. Nhưng chú vẫn cố kìm nén để giữ vững tình yêu và niềm tin. Vì thế, bé Hồng đã “cười dài trong tiếng khóc” hỏi lại bà cô về cái tin sét đánh kia. Nỗi uất ức và đau đớn như chuyển sang trạng thái chai lì, bướng bỉnh. Khi nghe bà cô tươi cười kể lể tình cảnh khốn khổ của mẹ mình thì “cổ họng tôi đã nghẹn ứ, khóc không ra tiếng”. Và ý nghĩa táo tợn bất cần, đầy phẫn nộ đã trào sôi như cơn dông tố trong lòng chú bé: “Giá những cổ tục đã đày đọa mẹ tôi là một vật như hòn đá hay cục thủy tinh, đầu mẩu gỗ, tôi quyết vồ ngay lấy mà cắn, mà nhai, mà nghiến cho kì nát vụn mới thôi”. Lại một câu văn biểu cảm và một hình ảnh so sánh đặc sắc nữa! Nguyên Hồng đã sử dụng các từ cắn, nhai, nghiến….nằm trong một trường nghĩa đặc tả tâm trạng uất ức, căm giận của nhân vật. Đến đây, tình thương và niềm tin đối với mẹ đã xui khiến người con hiếu đễ ấy suy nghĩ sâu hơn, xúc cảm rộng hơn. Từ cảnh ngộ riêng của người mẹ, từ những lời nói kích động của người cô, bé Hồng nghĩ tới những “cổ tục”, căm giận cái xã hội cũ kĩ đầy đố kị, thành kiến độc ác đối với những người phụ nữ gặp hoàn cảnh éo le. Từ câu chuyện riêng của đời mình, Nguyên Hồng đã truyền tới người đọc những nội dung mang ý nghĩa xã hội bằng những dòng văn giàu cảm xúc và có hình ảnh, rất ấn tượng. Qua cuộc đối thoại và những cung bậc cảm xúc của bé Hồng trước bà cô, chúng ta thông cảm với những nỗi đau thấm thìa, đồng thời rất trân trọng một bản lĩnh cứng cỏi, một tấm lòng thiết tha của người con rất mực thương và tin yêu mẹ.

Nhờ tình thương và niềm tin ấy, đến khi gặp mẹ, bé Hồng đã nhận được niềm sung sướng, hạnh phúc lớn lao. Như trên ta đã biết, người mẹ của bé Hồng trở về đúng thời điểm quan trọng nhất, đã xua tan mọi đau đớn, dằn vặt trong tâm hồn chú bé. Mới chỉ thoáng thấy một bóng người giống mẹ, chú bé Hồng đã vội vã, bối rối, vừa chạy theo vừa gọi mẹ. Được ngồi lên xe cùng mẹ, chú bé “òa lên khóc rồi cứ thế nức nở” khiến cho người mẹ cũng “sụt sùi theo”. Ba từ òa, nức nở, sụt sùi cùng trường nghĩa, nối nhau miêu tả các dạng thức đặc biệt của tiếng khóc, của những dòng lệ. Đây là âm thanh, là nước mắt của biết bao nỗi niềm, tâm trạng hai mẹ con: tủi hận, tự hào, bàng hoàng, sung sướng… Cảm giác sung sướng của đứa con khi được ngồi kề bên mẹ, được ôm ấp trong lòng mẹ cứ dâng lên từng giây, từng phút. Trước hết, chú được tận mắt nhìn thấy mẹ, “nhận ra mẹ tôi không còm cõi xơ xác quá… Gương mặt mẹ tôi vẫn tươi sáng với đôi mắt trong và nước da mịn làm nổi bật màu hồng của hai gò má…”. Có được một người mẹ như thế, chú bé nào chẳng vui sướng, tự hào, huống chi là bé Hồng, đứa trẻ côi cút từng mong gặp lại mẹ đến cháy lòng, cháy ruột, từng phải đấu tranh với người khác cố ý nói xấu mẹ mình, chia rẽ tình mẹ con. Tiếp sau, chú bé được mẹ ôm ấp “đùi áp đùi mẹ tôi, đầu ngả vào cánh tay mẹ tôi….hơi quần áo mẹ tôi và những hơi thở d khuôn miệng xinh xắn nhai trầu phả ra lúc đó thơm tho lạ thường…”. Chỉ một đoạn văn ngắn mà nhà văn sử dụng dồn đập bao nhiêu động từ, tính từ, nhất là những danh từ cùng trường nghĩa: gương mặt, đôi mắt, nước da, gò má, đùi, đầu, cánh tay, da thịt, khuôn miệng miêu tả vô cùng sinh động niềm hạnh phúc lớn lao tưởng như tới đỉnh điểm của tình mẫu tử. Đây thực sự là những cảm giác “mơn man” ngây ngất, đắm say mà vô cùng êm dịu của quan hệ máu mủ, ruột thịt mà những đứa trẻ bất hạnh không dễ gì có được. Nhà văn đã dựng lại một bức tranh tràn ngập ánh sáng, đường nét rõ ràng, hài hòa, trong đó là những sắc màu tươi tắn, thoang thoảng hương thơm. Đó là một hình ảnh về một thế giới đang bừng nở, hồi sinh, một thế giới dịu dàng kỉ niệm, ăm ắp tình người. Sống trong thế giới đó, chú bé Hồng bồng bềnh trôi trong cảm giác sung sướng, rạo rực, ru mình trong tình mẹ dịu êm, tự hào, hãnh diện được đền đáp bởi tấm lòng người con hiếu thảo thương và tin yêu mẹ đến cháy lòng. Cái cảm giác mình đang bé lại – hay niềm khát khao được bé lại – để làm nũng mẹ, để hưởng sự vuốt ve, chiều chuộng của mẹ cứ lâng lâng, tiếp nối khiến chú bé như đang sông trong mơ vậy. Mọi điều xấu xa, sai lệch mà bà cô gieo vào tâm hồn thơ dại của chú bé bay biến đi hết cả. Xung quanh, từ thế giới bên ngoài vào sâu trong tận cùng cõi tâm linh của chú bé và người mẹ dường như chỉ là niềm hạnh phúc giản dị mà thiêng liêng, hiện thực mà lãng mạn, đầy mộng mơ….

Có thể nói, càng về cuối câu chuyện, ngôn ngữ văn chương càng linh hoạt, sống động, tình cảm người viết càng dạt dào. Đúng là nhà văn đang sông lại những kỉ niệm tuổi thơ của mình để tâm tình, chia sẻ với bạn đọc, cùng bạn đọc thấm thìa những khúc nhạc buồn, vui, cay đắng, ngọt ngào của lòng mẹ yêu con, tình con tin yêu mẹ….

Phân tích nhân vật bé Hồng dựa vào đoạn trích Trong lòng mẹ của Nguyên Hồng – Bài làm 4

Cậu bé Hồng trong tác phẩm 'trong lòng mẹ' phải chịu đựng sẹ ghẻ lạnh, cay nghiệt của bà cô nhưng trong cậu vẫn bùng cháy tình yêu thương mẹ mãnh liệt.

Chao ôi! chúng ta thật xót xa và cảm thông cho hoàn cảnh đau khổ, bất hạn của chú bé. Câu bé là kết quả của cuộc hôn nhân không có tình yêu, lớn lên trong không khía dia đình lạnh lẽo, trong sự ghẻ lạnh, xa lánh của bà cô. Không chỉ có vậy, đáng thương biết bao khi bố cậu nghiện ngập rồi mất sớm, mẹ phải bỏ đi tha phương cầu thực để lại trong cậu những mất mát to lớn.

Chú bé Hồng là một đưa trẻ thông minh và ngoan ngoãn, giàu tình yêu thương mẹ, biết ứng xử khôn khéo và những tình huống đẫm nước mắt trước những ý đồ đen tối thâm hiểm của bà cô. Từ khi mẹ cậu bỏ cậu đi đến nay, bà cô của cậu – người họ hàng ruột thịt không những không quan tâm, giúp đỡ cậu bé Hồng mà luôn hắt hủi, cay nghiệt, xa lánh đứa cháu đáng thương của mình. Và cuộc đối thoại giữa cầu với bà cô đã thể hiện rõ nhất sự thâm hiểm, độc ác và tình yêu thương mãnh liệt của cậu bé hồng với mẹ.

Bà cô vừa cười ừa hơi 'mày có muốn vào Thanh Hóa – chơi với mẹ mày không?' với nét mặt và giọng nói rất kịch đã thể hiện sự giả dối trơ trẽn của bà cô. Bé Hồng toai trơi lời có nhưng khi nghĩ lại thì cúi đầu không đáp đã cho ta thấy sự thông minh, yêu mẹ của cậu.

Rồi bà cô lại ngọt giọng 'mẹ mày phát tài lắm' … với đôi mắt sắc lạnh nhìn cháu chằm chằm. Rồi như bi cứa ào nỗi đau tinh thần, chú bé chỉ im lặng cúi đầu, lòng thắt lại khóe mắt cay cay với một nội đau không thể kể hết trên gương mặt hốc hác tội nghiệp của đứa trẻ bất hạnh. 

Nỗi đau càng được thể hiện rõ hơn khi bà cô vỗ vai ngân dài hai tiếng 'em bé'. Đến đây, những dòng nước mắt chảy ròng ròng, đầm đìa, chan hòa. Cậu quyết không để 'những rắp tâm tanh bẩn' có thể xúc phạm đến tình yêu thương mẹ mãnh liệt ấy. Cậu cũng chỉ biết thương mẹ, thương thân, căm tức những cổ tục đã đày đọa mẹ con chú bé đến mức đường cùng. Rồi nỗi uất ức, căm hận dường như được đẩy lên cao tròa khi bà cô độc ác tươi cười khi kể về tình cảnh túng quẫn của mẹ. 

Bé Hồng lúc đó cổ họng nghẹn ứ lại, giá như cổ tục đã đày đọa, kẹp nát vụn mới thôi. Thể hiện tình yêu thương mẹ mãnh liệt, sâu sắc. Dù phải chị đựng nỗi đau tủi cực nhưng em có một tình yêu thật mạnh liệt với người mẹ kính yêu của mình.

Qua đó ta cũng thấy được sự thờ ơ thiếu quan tâm của những người lớn đối với con trẻ.

Quả là không có gì sung sướng hơn, hạnh phúc hơn khi một người con được gặp lại mẹ sau nhiều năm xa cách. Thoáng thấy bóng dáng của một người giống mẹ, cậu bé bối rối chạy theo gọi, khát khao được gặp mẹ, thèm khát được tình yêu thương mà bấy lâu nay đã bị bỏ quên. Cậu bé Hồng có tình yêu mẹ, niềm khát khao được gặp mẹ đến cháy bỏng.

Đến khi được gặp lại mẹ, cậu sà vào lòng mẹ òa khóc nức nở. Cậu lại được sống trong tình mẫu tử thiêng liêng cao đẹp, trong niềm hạnh phúc sung sướng ngập tràn, thái ngược hẳn với nỗi đau khổ mà cậu phải hứng chịu trước kia. Ở trong lòng mẹ, bé Hồng vẫn cảm thận được cái cảm giác ấm áp của tình mẫu từ và quên hết mọi tủi cực, đắng cay. Niềm hạnh phúc dâng tràn và sung sướng của chú bé khi gặp lại mẹ.

Chú bé Hồng là chú bé giàu tình yêu thương mẹ, thông minh, ngoan ngoãn, luôn mạnh mẽ để đối đầu với những thành kiến tàn ác mà nỗi tủi cực , đắng cay cậu phải gánh chịu.

'Công cho như núi Thái Sơn

Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra'

Câu ca dao đã nhắc nhở chúng ta phải biết ơn bố mẹ, những người đã sinh ra ta. Thông qua nhân ật chú bé Hồng bồi đắp cho em tình yêu thương, tình mẫu tử thiêng liêng cao đẹp đối với mẹ của mình.

Các bài nên tham khảo

Soạn bài câu trần thuật đơn có từ LÀ

Soạn bài câu trần thuật đơn có từ LÀ I. Đặc điểm 1. Xác định chủ ngữ và vị ngữ. Trước từ là : chủ ngữ Sau từ là : vị ngữ Ví dụ : Dế Mèn trêu chị Cóc (C) là dại ...

Soạn bài câu trần thuật đơn

Soạn bài câu trần thuật đơn I. Câu trần thuật đơn là gì ? 1. Các câu này dùng để trần thuật. - Kể lại việc Dế Mèn không cho Dế Choắt đào thông ngách sang nhà ...

Soạn bài câu trần thuật đơn không có từ LÀ

Soạn bài câu trần thuật đơn không có từ LÀ I. Đặc điểm 1. Xác định C – V. a. Phú ông (c) mừng lắm (v) b. Chúng tôi (c) tụ hội (v) ở góc sân. 2. - Vị ngữ a do ...

Soạn bài câu phủ định lớp 8

Soạn bài câu phủ định lớp 8 I. Đặc điểm hình thức và chức năng 1. a. Các câu (b), (c), (d) khác với câu (a) ở những từ ngữ phủ định không, chưa, chẳng. b. Câu ...

Soạn bài Hịch Tướng Sĩ

Soạn bài hịch tướng sĩ Đọc – hiểu văn bản Câu 1. Bài hịch có thể chia làm ba đoạn. a. Đoạn 1 : Từ đầu đến ‘… lưu tiếng tốt’ : nêu gương sử ...

Soạn bài hành động nói tiếp theo

Soạn bài hành động nói tiếp theo I. Cách thực hiện hành động nói. 1. Câu Mục đích 1 2 3 4 5 Hỏi - - - - - Trình bày ...

Soạn bài Chiếu Dời Đô (Thiên Đô Chiếu)

Soạn bài chiếu dời đô (thiên đô chiếu) Đọc – hiểu văn bản Câu 1: Đây là đoạn văn có tính chất nêu tiền đề, làm chỗ dựa cho lý lẽ ở những phần tiếp theo. Trong ...

Soạn bài câu cảm thán

Soạn bài câu cảm thán I. Đặc điểm hình thức và chức năng 1. Trong những đoạn trích trên, các câu sau là câu cảm thán: - Hỡi ơi lão Hạc! (đoạn a) - Than ôi! 2. ...

Soạn bài Quê Hương

Soạn bài Quê Hương - Tế Hanh Đọc – hiểu văn bản Câu 1. Sau hai câu thơ mở đầu rất bình dị, tự nhiên, tác giả giới thiệu chung về làng quê của mình, nội dung hầu ...

Thuyết minh về một danh lam thắng cảnh

Thuyết minh về một danh lam thắng cảnh I. Giới thiệu một danh lam thắng cảnh Ta có thể tóm tắt những ý chính của bài viết : Hồ Hoàng Kiếm và Đền Ngọc Sơn. (1) ...

Cho thuê nhà trọ phòng trọ giá rẻ Cho thuê nhà trọ phòng trọ giá rẻ Cho thuê nhà trọ phòng trọ giá rẻ Cho thuê nhà trọ phòng trọ giá rẻ Cho thuê nhà trọ phòng trọ giá rẻ Cho thuê nhà trọ phòng trọ giá rẻ Cho thuê nhà trọ phòng trọ giá rẻ Cho thuê nhà trọ phòng trọ giá rẻ Cho thuê nhà trọ phòng trọ giá rẻ